TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng. Mục đích của tự phê bình và phê bình là: Làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi; làm cho các tổ chức đảng luôn luôn trong sạch, vững mạnh; để tăng cường đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng; để các tổ chức Đảng và đảng viên luôn hoàn thiện mình, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao cho.
Tự phê bình và phê bình phải được tiến hành thường xuyên, như người ta rửa mặt hàng ngày.
Tự phê bình phải thành khẩn. Thành khẩn, thành tâm, không “giấu bệnh sợ thuốc” sẽ giúp cho việc tự phê bình có kết quả tốt.
Phê bình phải trung thực “không đặt điều”, “không thêm bớt”.
Tự phê bình và phê bình phải kiên quyết, “ráo riết”, không nể nang.
Tự phê bình và phê bình phải có tính chất xây dựng “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

XEM NGÀY TỐT XẤU

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Nguyễn Trọng Thủy)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Sắp xếp dữ liệu

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    IMG_0186.flv HAY.jpg DSC00137.jpg DSC00123.jpg DSC00145.jpg DSC00133.jpg DSC00125.jpg DSC00126.jpg DSC00118.jpg DSC00148.jpg DSC00116.jpg DSC00173.jpg DSC00138.jpg DSC001741.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    BAO CAO 16/8/2014

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Trần Văn Phi
    Ngày gửi: 06h:28' 14-08-2014
    Dung lượng: 83.5 KB
    Số lượt tải: 30
    Số lượt thích: 0 người
    UBND HUYỆN LỤC NGẠN
    PHÒNG GD&ĐT
    TẬP HUẤN
    KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
    THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HS
    TRONG TRƯỜNG THCS-MÔN VẬT LÍ
    Chũ, ngày 16,17 tháng 8 năm 2014

    * YÊU CẦU CỦA ĐỢT TẬP HUẤN
    1. Mỗi nhóm 1 máy tính laptop
    2. Đi tập huấn đúng giờ
    3. Nghiêm túc trong tập huấn
    4. Có báo cáo thu hoạch nộp lại cho báo cáo viên
    * Địa chỉ tải tài liệu: http://violet.vn/thcs-bienson-bacgiang (Ở mục Giáo án: Tài liệu học hè 2014)
    I. LÝ DO PHẢI TẬP HUẤN
    Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng cả kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục.
    Trước bối cảnh đó và để chuẩn bị quá trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015, cần thiết phải đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục.
    II. NỘI DUNG TẬP HUẤN
    1) Khái niệm năng lực
    * Trong bối cảnh giáo dục, một năng lực có thể được định nghĩa là "khả năng đáp ứng thành công các yêu cầu phức tạp hoặc thực hiện một hoạt động hay nhiệm vụ" (Rychen và Tiana). Chúng ta cũng cần lưu ý rằng thuật ngữ "năng lực" đại diện cho về một khái niệm tổng hợp, và được định nghĩa khác với khái niệm "kỹ năng" thường được sử dụng để chỉ một khả năng thực hiện các hành động vận động và/hoặc nhận thức phức tạp một cách dễ dàng và chính xác. Thuật ngữ "năng lực" mang ý nghĩa về "một hệ thống hoạt động phức tạp bao gồm các kỹ năng nhận thức, thái độ và các thành phần phi nhận thức khác".
    * Năng lực là một khái niệm vượt trên nội hàm kiến thức và kỹ năng. Nó bao gồm khả năng đáp ứng các đòi hỏi phức tạp thông qua việc tận dụng và vận dụng tốt các nguồn lực tâm lý-xã hội (gồm kỹ năng và thái độ) trong một bối cảnh cụ thể. Lấy ví dụ, khả năng giao tiếp hiệu quả là một loại năng lực có được do cá nhân đã vận dụng tốt kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng công nghệ thông tin và thái độ tích cực của mình khi giao tiếp với người khác.
    * Theo quan điểm của những nhà tâm lý học Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.
    * Từ điển mở Wiktionary định nghĩa ngắn gọn năng lực là “Khả năng làm việc tốt, nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn”.
    * Tại Hội nghị chuyên đề về những năng lực cơ bản của Hội đồng châu Âu, sau khi phân tích nhiều định nghĩa về năng lực, F.E. Weinert kết luận: Xuyên suốt các môn học "năng lực được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể". Cũng tại diễn đàn này, J. Coolahan cho rằng: Năng lực được xem như là "những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành ». Có thể thấy dù cách phát biểu có khác nhau, nhưng các cách hiểu trên đều khẳng định: Nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm (know-how) và đã từng làm thành công, chứ không chỉ biết và hiểu (know-what), chưa từng làm thành công công việc trong lĩnh vực được cho là có năng lực.
    * Năng lực ở đây được hiểu là bất cứ thái độ, kỹ năng, hành vi, động cơ hoặc các đặc điểm cá nhân khác có vai trò thiết yếu để hoàn thành công việc, hoặc quan trọng hơn là có thể tạo ra sự khác biệt về hiệu quả công việc giữa người có thành tích vượt trội và người có thành tích trung bình.
    *Theo John Erpenbeck : Năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được hiện thực hóa qua ý chí.
    * Weinert (2001) định nghĩa :Năng lực là những khả năng và kỹ sảo học được hoặc có sẵn của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt.
    Tóm lại, có thể hiểu năng lực là những khả năng học được hoặc có sẵn của mỗi con người nhằm thực hiện có trách nhiệm, có hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, các vấn đề trong mọi tình huống thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở vốn tri thức,kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như thái độ sẵn sàng hành động.
    * Như vậy có nhiều định nghĩa về năng lực, trong khuôn khổ tài liệu này khái niệm năng lực được hiểu một cách đơn giản như sau “Năng lực là khả năng thực hiện một hoạt động có ý nghĩa. Khi thực hiện hoạt động này, người ta phải vận dụng kiến thức, kinh nghiệm, sử dụng các kĩ năng của bản thân một cách chủ động và trách nhiệm”.

    Chương trình giáo dục định hướng năng lực (định hướng phát triển năng lực) nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Giáo dục định hướng năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học.
    Giáo dục định hướng năng nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức.
    2. Định hướng phát triển năng lực
    - Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành;
    - Trong các môn học, những nội dung và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình thành các năng lực;
    - Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn...;
    - Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hành động dạy học về mặt phương pháp;
    - Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình huống: ví dụ như đọc một văn bản cụ thể ... Nắm vững và vận dụng được các phép tính cơ bản;
    - Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng chung cho công việc giáo dục và dạy học;
    - Mức độ đối với sự phát triển năng lực có thể được xác định trong các chuẩn: Đến một thời điểm nhất định nào đó, HS có thể/phải đạt được những gì?
    Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau. Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau. Ví dụ năng lực của GV bao gồm những nhóm cơ bản sau: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học.
    Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn trụ cốt giáo dục theo UNESCO:
    Các thành phần năng lực
    
    Các trụ cột giáo dục của UNESO
    
    
    
    
    
    Năng lực chuyên môn (K1-K4)
    
    Học để biết
    
    
    
    
    
    Năng lực phương pháp (P1-P9)
    
    Học để làm
    
    
    
    
    
    Năng lực xã hội (X1-X8)
    
    Học để cùng chung sống
    
    
    
    
    
    Năng lực cá thể (C1-C6)
    
    Học để tự khẳng định
    
    
    Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể. Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ. Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này.

    Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau. Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau. Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể.
    (1) Năng lực chuyên môn: Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động.
    (2) Năng lực phương pháp: Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề.
    (3) Năng lực xã hội: Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp.
    (4) Năng lực cá thể: Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử. Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm.
    Gợi ý xây dựng các bài tập để đánh giá các năng lực thành phần. Dưới đây là các gợi ý cụ thể về việc xây dựng các bài tập đánh giá các năng lực thành phần:
    - K1: Trình bày được kiến thức về các hiện tượng, đại lượng, định luật, nguyên lí vật lí cơ bản, các phép đo, các hằng số vật lí
    - K2: Trình bày được mối quan hệ gi
     
    Gửi ý kiến